Đất nước New Zealand

Đất nước New Zealand

(Quốc kỳ)

Đất nước New Zealand

Đất nước New Zealand

(Quốc huy)

Quốc huy New Zealand

Quốc huy New Zealand

* Địa lý- lịch sử:
– New Zealand nằm ở Tây Nam Thái Bình Dương, gồm 2 đảo chính: Bắc và Nam. Phần lớn đất đai là đồi núi, sông ngòi, hồ chứa nước và đồng cỏ. Khí hậu biển, nhưng luôn thay đổi do tác động của vị trí địa lý Nam bán cầu; có nhiều động đất và núi lửa hoạt động ở mức độ nhẹ. Nhiệt độ trung bình là 120C, nhưng khác nhau rõ rệt giữa đảo Bắc và đảo Nam.

Người Maori thuộc chủng tộc Polynesia ở Thái Bình Dương đã phát hiện ra New Zealand vào khoảng thế kỷ thứ 10. Năm 1769, thuyền trưởng James Cook thuộc Hải quân Hoàng gia Anh đã đến thám hiểm, đổ bộ lên đảo và tuyên bố New Zealand là đất của Nhà Vua Anh. Người Anh đến định cư ở đảo này đã bị người bản xứ Maori chống lại. Cuộc đấu tranh của người Maori kéo dài gần một thế kỷ, kết quả là hai bên đã thoả hiệp và ký Hiệp định Waitangi ngày 6/2/1840 theo đó người Maori công nhận việc Hoàng gia Anh bảo hộ New Zealand để đổi lại việc Hoàng gia Anh thừa nhận quyền sở hữu đất đai của người Maori.
* Kinh tế- xã hội:

New Zealand có cơ sở kinh tế nông, công nghiệp phát triển, trong đó chăn nuôi giữ vai trò quan trọng. Tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp là 57%; công nghiệp và các ngành khác 43%. 3/4 sản phẩm nông nghiệp hàng năm dùng để xuất khẩu.
– Nền kinh tế New Zealand chủ yếu dựa vào thương mại, xuất nhập khẩu hàng hoá. New Zealand buôn bán với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó các bạn hàng lớn nhất của New Zealand là Australia, Liên minh Châu Âu, Nhật, Mỹ và Malaysia. Mặt hàng xuất chủ yếu là sữa, gỗ, cá, lông cừu và hoa quả. Mặt hàng nhập chủ yếu là xe cộ, máy móc, nhiên liệu, chất dẻo….
– Đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào New Zealand chủ yếu từ Australia, Nhật, Singapore, Anh, Mỹ, tập trung vào các lĩnh vực như sản xuất, xây dựng và du lịch.
– New Zealand được Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp hạng cao về khả năng cạnh tranh. Từ năm 1992-93 đến 1995-96, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,8% (gấp 3 lần so với giai đoạn 1971-91 là 1,2%). Từ năm 1999-2000 đến 2001-2002, tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 2,5%. Năm 2002 đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trung bình khoảng 4,2-4,4%, thuộc loại cao trong khối OECD.
* Chính sách đối ngoại:
Cho đến những năm 1960, New Zealand phụ thuộc vào Anh, Mỹ và phương Tây. Từ 1970 đến nay, New Zealand thực hiện chính sách độc lập hơn, nhất là trong quan hệ với Mỹ, tăng cường quan hệ đặc biệt với Australia và các nước ở Nam Thái Bình Dương.
New Zealand tham gia hiệp ước an ninh phòng thủ ANEW ZEALAND US (gồm Mỹ, Australia và New Zealand) năm 1952, song đến năm 1984 New Zealand đã rút khỏi Hiệp ước này do mâu thuẫn với Mỹ xung quanh việc cấm tàu chiến Mỹ chạy bằng năng lượng hạt nhân vào cảng New Zealand. New Zealand tham gia Hiệp ước phi hạt nhân vùng Nam Thái Bình Dương năm 1986.
New Zealand tích cực hoạt động để khẳng định mình như một quốc gia Châu á-Thái Bình Dương: coi Australia là đối tác quan trọng hàng đầu về chính trị, kinh tế, quốc phòng; củng cố quan hệ với các nước Nam Thái Bình Dương thông qua Diễn đàn các nước đảo Thái Bình Dương, Diễn đàn Tây Nam Thái Bình Dương và viện trợ cho khu vực này; và đẩy mạnh hội nhập Châu á. New Zealand coi trọng quan hệ với ASEAN, tích cực hoạt động trong APEC, ARF, mong muốn tham gia hợp tác Á-Âu (ASEM).

VÙNG ĐẤT BA MIỀN KHÍ HẬU

Mùa xuân: Tháng 9 – 11
Cách Australia gần 2 giờ bay, New Zealand tựa như một tấm thảm ghép bởi những phong cảnh tuyệt vời do có nhiều vùng khí hậu vừa nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới.
Điểm hấp dẫn của bờ biển có nhiều vịnh hùng vĩ này là Punakaiki, có thể nói với khí hậu Địa Trung Hải, nó chẳng khác gì một Hawaii trên đất New Zealand. Xa xa là những ngọn núi phủ băng tuyết trắng. Những cú nhảy ngoạn mục của cá heo có lẽ chính là nét chấm phá rất độc đáo của mảnh đất 3 vùng khí hậu này.
Khí hậu NZ
mang đặc tính của cả vị trí địa lý và địa hình của đất nước. Do ảnh hưởng của vĩ độ và gần đại dương nên khí hậu không bao giờ quá nóng hay quá lạnh. Thời tiết NZ thay đổi như trở bàn tay: Trời đang mưa có thể đột nhiên hửng nắng hoặc đổi gió.

Mùa hè: Tháng 12 – 2
Khí hậu miền biển thường xuyên có gió . Gió thổi nhiều nhất là từ phíaTây. Dãy núi xương sống của đất nước tạo ra những yếu tố khí hậu khác nhau rõ rệt giữa hai bên sườn núi , nhất là trên đảo Nam. Bờ biển miền tây của đảo Nam có lượng mưa hàng năm cao nhất thế giới. Bờ biển phía Đông thì khô ráo hơn nhiều.
Các mùa ở đây ngược với các mùa ở Bắc bán cầu. Tháng nóng nhất ở NZ là tháng giêng, nhiệt độ trung bình cao nhất là 26oC ở cực Bắc và19oC ở cực Nam. Tháng 7 là tháng lạnh nhất , nhiệt độ trung bình ban ngày thay đổi từ 10oC đến 15oC.

Mùa thu: Tháng 3 – 5
New Zealand có khí hậu ôn đới với mùa đông ẩm ướt và mùa hè ấm và khô. Mùa hè từ tháng 12 đến tháng 2, mùa thu từ tháng 3 đến tháng 5, mùa đông từ tháng 6 đến tháng 8 và mùa xuân từ tháng 9 đến tháng 11. Nhiệt độ trung bình từ 7 độ C đến 16 độ C nhưng nhiệt độ mùa hè khoảng 25 độ ở nhiều nơi.

Mùa đông: Tháng 6 – 8 – Vào mùa đông, môn thể thao được ưa chuộng nhất là trượt tuyết và leo núi Giờ New Zealand đi trước giờ Việt Nam 05 tiếng. Nhưng vào mùa Hè (khi ngày dài hơn) sẽ có thay đổi, kể từ 02:00 sáng ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng Mười cho đến 03:00 sáng ngày Chủ Nhật thứ 3 của tháng Ba năm sau thì giờ New Zealand chỉ còn đi trước giờ Việt Nam 01 tiếng. NZST (GMt+12) or NZDT (GMt+13) Tháng Mười – Tháng Ba.

(Theo ITPC)